•  
Đang xem: Trang chủ Bộ Y tế & WHO về SKSS Làm mẹ an toàn Trang 69- Đỡ đẻ thường ngôi chỏm

Trang 69- Đỡ đẻ thường ngôi chỏm

Email In PDF.

Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản-Bộ Y tế, 2009

Tuyến áp dụng:     Tất cả các tuyến.
Người thực hiện:    Bác sĩ, nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi, cô đỡ thôn bản đã được đào tạo về đỡ đẻ.

1. Định nghĩa.

Đỡ đẻ thường ngôi chỏm kiểu chẩm vệ là thủ thuật tác động vào thì sổ thai để giúp cuộc đẻ được an toàn theo đường âm đạo, không cần can thiệp (trừ trường hợp cắt tầng sinh môn).

2. Chỉ định.
Thai ngôi chỏm, đầu đã lọt thấp, thập thò ở âm hộ và chuẩn bị sổ.

3. Chống chỉ định.
-    Thai không có khả năng đẻ được theo đường dưới.
-    Ngôi chỏm chưa lọt.

4. Chuẩn bị.
4.1. Phương tiện.
-    Bộ dụng cụ đỡ đẻ và bộ khăn vô khuẩn.
-    Bộ dụng cụ cắt, khâu tầng sinh môn.
-    Khăn, bông, băng, gạc hấp, chỉ khâu, kim khâu.
-    Dụng cụ để hút nhớt và hồi sức sơ sinh (máy hút, ống nhựa)
-    Thông đái.

4.2. Sản phụ.
-    Được động viên, hướng dẫn cách thở, cách rặn và thư giãn ngoài cơn rặn.
-    Được hướng dẫn đi đại tiện hoặc thụt tháo phân lúc mới bắt đầu chuyển dạ và tiểu tiện khi sắp đẻ. Nếu có cầu bàng quang mà không tự đái được thì thông tiểu.
-    Rửa vùng sinh dục ngoài bằng nước chín.
-    Sát khuẩn rộng vùng sinh dục và bẹn, đùi, trải khăn vô khuẩn.

4.3. Tư thế sản phụ.
-    Nằm ngửa trên bàn đẻ, nâng giường đẻ lên để có tư thế nửa nằm nửa ngồi, đầu cao, hai tay nắm vào hai thành bàn đẻ, hai đùi giang rộng, mông sát mép bàn, hai cẳng chân gác trên hai cọc chống giữ chân.

5. Các bước tiến hành.
5.1. Nguyên tắc.
-    Người đỡ đẻ phải tôn trọng nguyên tắc vô khuẩn trong khi đỡ đẻ, phải kiên nhẫn chờ đợi, hướng dẫn sản phụ rặn khi cổ tử cung mở hết và có cơn co tử cung, không được nong cổ tử cung và âm đạo, không được đẩy bụng sản phụ.
-    Ở thì lọt, xuống và xoay không can thiệp, chỉ theo dõi cơn co tử cung, tim thai, độ xóa mở cổ tử cung, độ lọt, khi cổ tử cung mở hết đầu lọt thấp mới cho sản phụ rặn.
-    Thời gian rặn tối đa ở người con so là 60 phút, ở người con rạ là 30 phút. Nếu quá thời gian này cần can thiệp để lấy thai ra bằng forceps hoặc bằng giác kéo.
-    Trong thời gian sản phụ rặn đẻ vẫn phải theo dõi tim thai thường xuyên, sau mỗi cơn rặn.

5.2. Kỹ thuật đỡ đẻ ngôi chỏm kiểu chẩm vệ.
5.2.1. Người đỡ đẻ chỉ bắt tay vào đỡ khi có đủ các điều kiện sau:
-    Cổ tử cung mở hết.
-    Ối đã vỡ (chưa vỡ thì bấm ối).
-    Ngôi thai đã lọt và thập thò ở âm môn làm tầng sinh môn căng giãn, hậu môn loe rộng.
-    Hướng dẫn cho sản phụ chỉ rặn khi có cảm giác mót rặn cùng với sự xuất hiện của cơn co tử cung.

5.2.2. Các thao tác hầu hết làm trong cơn rặn của sản phụ và cần phải:
-    Nhẹ nhàng.
-    Giúp cho thai sổ từ từ.
-    Kiên nhẫn động viên sản phụ, không thúc ép, giục giã, sốt ruột.
-    Nhớ là đỡ đẻ chứ không phải kéo thai.

5.2.3. Các thao tác đỡ đẻ gồm có.

Đỡ đầu
-    Giúp đầu cúi tốt: ấn nhẹ nhàng vào vùng chẩm trong mỗi cơn co tử cung.
-    Nếu cần thì cắt tầng sinh môn ở vị trí 5 giờ hoặc 7 giờ, vào lúc tầng sinh môn giãn căng.
-    Khi hạ chẩm tì dưới khớp vệ: sản phụ ngừng rặn, một tay giữ tầng sinh môn, một tay đẩy vào vùng trán ngược lên trên, giúp đầu ngửa dần, mắt, mũi, miệng, cằm sẽ lần lượt sổ ra ngoài.
-    Chỉ hút dịch hoặc lau miệng thai nhi khi nước ối có phân su.

Đỡ vai
-    Quan sát xem đầu thai có xu hướng quay về bên nào thì giúp cho chẩm quay về bên đó (chẩm trái - ngang hoặc chẩm phải - ngang), kiểm tra dây rốn nếu quấn cổ: gỡ hoặc cắt (khi chặt không gỡ được).
-    Hai bàn tay ôm đầu thai nhi ở hai bên đỉnh thái dương, kéo thai xuống theo trục rốn - cụt để vai trước sổ trước. Khi bờ dưới cơ delta tì dưới khớp vệ thì một tay giữ đầu (cổ nằm giữa khe hai ngón cái và trỏ) tay kia giữ tầng sinh môn, nhấc thai lên phía trên và cho sổ vai sau. Ở thì này dễ rách tầng sinh môn, vì vậy phải giữ tầng sinh môn tốt và cho vai sổ từ từ.

Đỡ thân, mông và chi
-    Khi đã sổ xong hai vai, bỏ tay giữ tầng sinh môn để thân thai nhi sổ và khi thân ra ngoài thì bắt lấy hai bàn chân, tiêm bắp 10 đv oxytocin khi chắc chắn không còn thai nào trong tử cung (xem “Xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ”).
-    Giữ thai ở tư thế ngang, đầu hơi thấp (hoặc để thai nằm nghiêng trên phần bàn đẻ đã được kéo ra hoặc cho nằm sấp trên bụng mẹ) rồi tiến hành cặp cắt rốn. Nếu người đỡ chính còn bế giữ thai thì động tác cặp cắt rốn do người đỡ phụ thực hiện.
-    Chuyển thai ra bàn hồi sức, giao cho người phụ chăm sóc, làm rốn, đánh giá chỉ số Apgar phút thứ 1 và thứ 5.

6. Kỹ thuật đỡ đẻ kiểu chẩm cùng.
Cách theo dõi đỡ đẻ cơ bản giống như đỡ đẻ ngôi chẩm vệ chỉ khác một số điểm sau:
-    Khi đỡ đầu vì ngôi chỏm sổ kiểu chẩm cùng mặt thai ngửa lên phía xương mu người mẹ nên phải giúp đầu cúi bằng cách dùng đầu ngón tay ấn vào đầu thai từ dưới lên.
-    Khi hạ chẩm của thai ra đến mép sau âm hộ thì cho đầu thai ngửa dần ra sau để lộ các phần trán, mắt, mũi, cằm.
-    Khi đầu đã sổ hoàn toàn chờ cho đầu tự quay về phía nào sẽ giúp thai quay hẳn sang bên đó (trái hoặc phải ngang).
-    Tiếp tục đỡ vai và các phần khác của thai như với đỡ ngôi chỏm chẩm vệ
Chú ý:
-    Ngôi chỏm sổ chẩm cùng thường diễn biến lâu, sổ khó hơn và dễ gây sang chấn cho mẹ vì vậy cần cắt rộng tầng sinh môn trước khi đỡ đầu thai nhi.
-    Thai nhi sổ chẩm cùng cũng dễ bị ngạt vì thế cũng phải hồi sức thai thật tốt.

7. Theo dõi và xử lý tai biến.
7.1. Theo dõi.
-    Sau mỗi cơn rặn, người đỡ phụ lại nghe nhịp tim thai, báo lại cho người đỡ chính, nhằm phát hiện  suy thai để có thái độ xử lí thích hợp.
-    Luôn quan sát bụng sản phụ phát hiện kịp thời dấu hiệu dọa vỡ.
-    Hạ bàn đẻ nằm ngang khi thai đã sổ ra ngoài.
-    Sau khi đỡ đẻ, người đỡ chính phải quan sát sản phụ để kịp thời phát hiện chảy máu, vết rách và đánh giá mức co hồi tử cung để chuẩn bị xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ.
-    Ghi lại tình hình diễn biến cuộc đẻ vào hồ sơ.

7.2. Xử trí.
-    Ngay sau khi sổ thai, rau bong dở dang gây băng huyết cần bóc rau nhân tạo và kiểm soát  tử cung ngay.
-    Nếu rách âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn (hoặc cắt chủ động): khâu lại sau khi đã sổ rau và kiểm tra bánh rau.
-    Nếu bị băng huyết do đờ tử cung phải tập trung cấp cứu bằng các biện pháp làm ngừng chảy máu và bồi phụ lượng máu đã mất.
-    Thai ngạt: phải hồi sức thai.

Bác sỹ Nguyễn Thế Lập, nguồn Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS, Bộ Y tế

XEM NHIỀU